Chương 25
Ông Hương bảo bà Hương: Tôi không
ngờ mà có sự xảy ra như vậy.
Bà
Hương làm thinh. Bà linh tính hơn ông. Không đợi tới hôm nay. Ngay mấy bữa đầu
đến chăm sóc cho con chị thì bà đã thấy. Trước nhất bà nghĩ tại con em chớ không
phải tại thằng Đặng. Thằng Đặng nghèo, thân cô độc được vậy là quý rồi đâu có
dám trèo teo. Nếu con nhỏ không bắc thang thì nó chẳng đời nào...
Bà
nguých ông: - Tại ai? Mới ra nông nổi.
-
Tôi phải kêu thằng chăn trâu chăn vịt đó đập cho nó một trận.
-
Làm cha vợ đập chàng rể coi còn hay hơn hát Tiều đó!
-
Biểu nó tự hậu đừng có làm trò loạn luân đó nữa. Nếu còn tái phạm tôi sẽ còng
đầu.
-
Ông già vợ còng đầu chàng rể thì chắc ông già vợ đẹp mặt lắm đó.
-
Ờ! ờ vậy đóng cửa dạy nó!
-
Bà Hương nén giận lâu nay, nghe ông Hương khơi mào noi ôn lên. Bà bốc lá trầu
têm vội mớ vôi tùm lum cuộn miếng cau khô bỏ vô miệng nhai rau ráu rồi hất hàm:
-
Ông dạy nó làm sao đâu ông nói cho tôi nghe coi.
-
Thì dạy nó ăn ở cho phải đạo chớ có làm bậy bạ hư hết gia cang.
Bà
Hương bèn nổi cáu: - Nó có vợ bé mọn gì mà bậy bạ.
Ông
Hương bị chọc một phát ngay bảng họng dựng ngược cặp mắt nhưng không nói trôi
đựơc bèn gạt ngang: - Bà bắt cầu cho nó chớ ai.
- Ờ
phải à! Tui ngu quá ha! Bắc cầu cho con em giựt chồng con chị!
-
Bà đến đó một mình đủ rồi, lại còn dắt con nhỏ theo bẹo hình bẹo dạng cho nên nó
mới bốc hốt chớ sao! Tôi đã bảo vợ nó đẻ.. .. đàn ông ăn quen nhịn không quen.
Mà bà không nghe, bà nói không đứa nào qua mắt bà được.
Bà
Hương bị lật ngược.. .. nên đành chịu thua để cho ông dày vò. Nhưng bà có luân
lý nên bà lật ông trở lại:
-
Nghĩ cho cùng là tại ông. Ông hứa gả con Chín mà lại tráo con Tám cho nó, nó tức
nó trả thù.
Ông
Hương đập bàn: - Nhưng nó chịu rồi. Tôi cho tiền cho đất nó nhận hết. Bấy nhiêu
đó không đủ lấp mấy mụt rổ trên mặt con nhỏ hay sao?
Bà
Hương không chịu thua: - Nó nhận nhưng vợ nó phải lấy.
-
Lấy rồi còn đòi gi nữa?
-
Vợ nó là con Chín kia! Nó lấy con Tám người cười nó, thằng Tư Cồ quăng vỏ chuối
..
Ông
Hương nhớ cái đêm ông "rình bắt" tại nhà thằng Đặng ông càng hởi ôi. Từ đó tới
nay không biết nó mò về thăm con gà Mặt Lọ của nó ban đêm nữa không?
-
Rồi bây giờ ông tính sao?
-
Phải chận ở gốc.
-
Gốc nào, gốc chanh, gốc ớt, hay gốc gáo?
-
Bà đừng có cho con Chín đi ra khỏi nhà. Chị nó cứng cát rồi, nó không được tới
lui .
-
Tôi bảo nó làm như vậy người ta cười em giựt chồng chị.
-
Rồi nó nói sao?
-
Nó nói chị nó cướp chồng của nó, chớ không phải nó giựt chồng chị nó.
Ông
Hương như bị sét đánh ngang mày, tay ông bám cạnh ván để khỏi bỗ ngửa. Ông
không ngờ con nhỏ to gan lớn mật như vậy. Ông nói : Tôi chành
đầu nó ra chớ chồng của nó.
-
Đầu đuôi cũng tại ông hết. Hồi đó phải chi ông nói trắng ra là ông gả con Tám
cho nó, chịu không chịu thì thôi. Đàng này ông làm hơi mưu trí bắt con gà đổi
con vịt, bây giờ mất cả vịt lẫn gà.
-
Đừng để nó đem cơm cho thằng kia nữa.
-
Tôi ngưng lâu rồi không đợi ông biểu. Nhưng nó đem thứ khác, ở chỗ khác có trời
mới cản được.
-
Vậy bà làm sao thì làm.
-
Buồng cau trổ ngược, ông không tin mà bây giờ có thật, thấy chưa?
-
Bà cho sắp nhỏ kêu thằng Năm Mẹo lên đây tôi dạy việc.
Chặp sau Năm Mẹo tới. Ông Hương vui vẻ: - Lúc này gà vịt có khá không chú?
-
Dạ cũng đều đều. Nhờ mùa màng trúng, lúa đổ nhiều, vịt ăn no, tròng đỏ tốt, ấp
một trăm nở chín mươi lăm trở lên, thưa ông Hương.
-
Tôi nghe thằng Đặng có con gà nghề ông Hội Đồng nài mà nó không bán hả chú?
-
Dạ đồ gà Tàu lai ăn thịt chớ nghề gì đâu ông Hương. Nó ham thì nó nuôi vậy thôi.
- Phải nó nhốt trong nhà đó không?
-
Dạ chắc đó! - Năm Mẹo vừa nói chuyện vừa đoán xem ông Hương mời mình lên đây để
làm gì.
-
Nó cưng dữ, hèn chi đem nào nó cũng mó... Ò về thăm ... bữa đó à....
Ông
Hương ngưng ngang như bị vướng vật gì trong cổ họng. Năm Mẹo vuốt luôn:
-
Dạ nó cưng gà còn hơn vợ con nó nữa đó ông Hương.
Năm
Mẹo chắc thế nào ông Hương cũng nói tới vụ "em vợ anh rể". Lâu nay Năm Mẹo biết
dì nó bị dượng nó làm khổ rồi, nhưng Năm Mẹo tra hỏi mà thằng Đặng chối lức. Đám
con Năm Mẹo phụ giữ vịt với Đặng nhiều lần thuật lại với tía chúng: - Tía ơi
tía, con thấy anh Đặng chống xuồng vô trong lung với chị Chín mần gì ở trỏng lâu
lắm.
Năm
Mẹo gạt ngang nhưng Năm Mẹo dư biết hai đứa nó mần gì ở trỏng. Bữa thì:
-
Tía ơi tía, anh Đặng với chị Chín vật lộn trên đống rơm.
Năm
Mẹo trợn mắt chận ngang. Bây giờ ngồi trước mặt ông Hương. Năm Mẹo tỉnh khô như
kẻ chơi bài cào mà cầm ba Tây trên tay, chỉ chờ tay con lật ngửa ra để vùa bạc.
Còn ông Hương cứ nhấp nhứ mà không vào đề được. Năm Mẹo cứ chờ xem ông Hương mở
màn cách nào. Ngồi ở đây Năm Mẹo còn nhớ đám cưới rước dâu đêm mà cười thầm. Đã
rước dâu đêm còn tắt đèn lúc đưa dâu ra ngỏ. Quả là một trò mị thuật. Ông Hương
chỉ nói vòng quanh:
-
Thằng Đặng có cha mẹ cũng như không, nhưng tôi thương nó.
-
Dạ vợ chồng tôi và chị tôi đội ơn ông Hương bà Hương!
-
Chú phải dạy dỗ coi chừng coi đổi nó.
-
Dạ, nó là đứa dễ bảo. Nếu ông Hương thấy có làm điều gì sái thì cứ răn dạy. Nó
là con rể nhà ông Hương. Từ ngày nó có gia đình, tôi phó thác nó cho ông Hương
bà Hương. - À a.... tôi cũng có chút chuyện muốn nói với chú Năm.
Năm
Mẹo như mở cờ trong bụng, nhưng cố làm tỉnh hỏi:
-
Dạ, chuyện chi vậy ông Hương?
-
Chuyện vợ con nó ấy mà. Con nhỏ sanh rồi, mẹ tròn con vuông tôi mừng lắm. Nhưng
..
Bà
Hương trong buồng vọt ra ngăn lại: - Chuyện của nó để cho nó lo.
Ông
bị bà cản họng đành ngưng luôn. Năm Mẹo kiếu từ ra về, như đi trên ngọn cỏ. Buổi
chiều Năm Mẹo sang chòi vịt thì thấy cô Chín ngồi khóc với Đặng. Mặt mũi cô bầm
tím.
Cô
nói: - Ba cháu đuổi cháu ra khỏi nhà.
Năm
Mẹo hỏi: - Bà Hương nói sao?
-
Má cháu hổng biết, ba cháu muốn làm gì thì làm.
-
Còn cô Tám nói gì?
-
Chỉ nói tại ba cháu nên bây giờ mới vậy.
Chương 26
Người tài công nghe lệnh bèn bớt tốc độ và rà vào mé, ghé lại bờ. Trời chiều
bảng lảng. Mặt trời chiều soi lòng sông "gợn lăn tăn tựa hồ muôn ngàn con rắn
vàng bò trên mặt nước". (#1)
Trên sông xuồng ghe đi lại như mắc cửi. Dọc bờ sông thì ghe thương hồ ghim mũi
vào quay lái ra. Khói cơm chiều man mác, gợi buồn cho khách tha phương.
Ông
Hội ngồi trên mui ca- nô ngó lên bờ. Thấy người đi xuôi ngược lao xao, ông buộc
miệng ao ước:
-
Phải có con cá bông nấu canh chua bông điên điển nhâm nhi chơi thầy Năm ha!
-
Dạ phải, đáo xứ tùy nhơn, còn mình đến đây thì nên nếm thử món địa phương cho
biết.
Anh
tài công và thằng Đặng nghe vậy bèn thót lên bờ, một chút trở lại với đủ vật
liệu cho một nồi canh chua.
Bông điên điển mọc ở đầu làng
Còn
lục bình trôi lên xuống như phường hát rong.
Chập sau mâm cơm dọn ra trên mui. Vầng dương vừa lặn ở hướng Tây, ánh trăng rằm
tỏ rạng. Từ vài chiếc thuyền trôi bềnh bồng vang lên tiếng hò dịu ngọt lan trên
mặt sông:
Cái
Răng Ba Láng Vàm Xáng Phong Điền
Anh cho em thì cho bạc cho tiền
Chớ
đừng cho lúa gạo xóm giềng họ cười chê.
..
Hò ơ ợ. .. Cái Răng Ba Láng Vàm Xáng Xà No
Anh
thương em hãy sắm cho em một con đò
Để
em qua phố mua cò gởi thơ ợ. .ơ
Ông
Hội Đồng, thầy Năm ngưng đũa lắng nghe. Ông Hội Đồng nói:
-
Đây là trung tâm của sự giàu có đất Hậu Giang đó thầy Năm. Thầy thấy những lẫm
lúa đi cặp kè với nhà máy xay không? Đó là của người Tàu. Họ vựa lúa rồi xay,
xong chở thằng lên Chợ Lớn. Bao nhiêu mồ hôi nước mắt của dân mình ở vùng này
gom lại đây để chảy vào túi họ.
Bỗng một giọng ca tài tử vang lên từ một chiếc ghe tam bản không mui, giọng ca
lảnh lót lượn theo tiến đờn kìm, đờn cò, đờn tranh, dây tơ cây sắt ngân lên hòa
nhịp làm cho đoàn khÿch lạ ngẩn ngợ Bỗng có tiếng cất lên từ một ghe thương hồ:
-
Hay thiệt hay, xin cho nghe một bài Tứ Đại Oán được chăng Thúy Kiều - Kim Trọng?
-
Tích gì cũng được, nhưng cho cây tranh lên một chút. Tự nãy giờ cây tranh bị lép
quá!
- Ở
đây ngoài trời gió thổi bê nên tiếng tranh hơi nhỏ. Để cô Năm ca lớp “Trảm Trịnh
Ân" cho bà con nghe chơi
-
Được rồi. Ngồi buồn lại gặp chiếu manh. Dô đi! Rồi một giọng ca bắt đầu:
Nghe hoảng kinh gia tướng trở về
Báo
tin phu tướng phan lìa
Tam
Xuân tư bề ủ ê Tiếc thương thương tiếc không chùng
Giận phừng phừng nghiêm trần chư quân
Kéo
thẳng vào Trường An
Tống Chúa ra gặp nàng
Chào em dâu Lỗi, bởi anh say quá đô.
à... .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. .. ..
..
. Xin phải Giao Mai, Phụng
Cho
em trả thù
Mà
điện tế tiên phu Phu lang, hởi phu lang Xót phận chàng, xui thế!
Thời hề vận hề Hệ bởi đâu, hệ bởi đâu?
Sương đêm xuống mát đầm, Hơi nước từ mặt sông bốc lên. Âm dương hòa nhợp làm nên
một màn lưới mong manh nâng đỡ tiếng đàn giọng ca không cho tan loãng. Trên bờ
đèn nhà lốm đốm trong những dãy vườn xanh đen lấp lánh ánh trăng thanh. Một thời
thái bình thạnh trị ngự trên vùng đất này.
Trời khuya dần tóc ướt hơi sương. Những người tùy tùng đi lo săn sóc mấy con gà,
duy ông Hội và thầy Năm còn ngồi trên mui ca- nô nghe đờn ca.
Ông
Hội nói: - Đất này là đất địa linh nhơn kiệt đó thầy giáo à!
-
Dạ, tôi có thấy sách nói là cụ Cử Tri gốc Ba Tri – Bến Trẹ Sau khi trều đình
giao ba tỉnh phía Tây cho quân Pháp thì cụ thất chí bỏ nhà thả ghe lênh đênh tên
sông rách rồi trôi dạt xuống miền Hậu Giang mà không rõ là nơi nào.
-
Ngài tạm cư ở đây, tại xã Nhơn Ái Nhơn Nghĩa và Nhơn Thạnh, tồi gặp cụ Học Lạc.
Hai người rất tương đắc với nhau. Quê Tôn Thọ Tường chính là ở Nhơn Ái. Cụ Học
Lạc làm bài thơ vịnh Con chó chết trôi là tại đây. Bài thơ còn lưu truyền trong
nhơn gian đến bây giờ.
Thầy Năm nói:
- Ở
Sầm Giang là đất phát tích của Đức Tả Quân còn đây là nơi an trí của cụ Trương
Duy Toản nữa.
-
Cụ Trương Duy Toản là ai vậy ông Hội?
Ông
Hội móc bao thuốc Bastos xanh ra mời thầy Năm. Hai người hút thuốc phì phà trầm
ngâm hồi lâu, ông hội mới tiếp. Ông ngồi nới lại gần thầy Năm, nói nhỏ hơn:
-
Trương Duy Toản là một người từng đi theo Kỳ Ngoại Hầu Cường Để ra tới Đức Quốc
để dưng thỉnh nguyện thư lên chính phủ Pháp.. .. Ông Hội ngưng ngang.
Đốm
lửa trên môi rực lên như cánh hoa hồng tí hon giữa màn đêm. Thầy Năm thấy không
tiện hỏi thêm chuyện quốc sự nên cũng im. Thầy lấy chai Nhị Thiên Đường ra đưa
cho ông Hội và pha trò.
-
Thuốc Bastos đánh tan cơn sầu. Còn ngừa chứng cảm mạo thì bằng Nhị Thiên Đường.
Ông
Hội vặn nút chai dầu nghe ken kéc, bôi lên trán lên thái dương, đưa lại cho thầy
Năm rồi bất giác nói, giọng như lạc đi: - Để tôi đọc cho thầy nghe một bài thơ
Đường Tử Vận nói vè gà nòi của cụ rồi thầy sẽ biết cụ là ai.
Rồi
ông thầm thì:
Đêm khuya canh vắng tối như mò,
Cất
tiếng kêu người gáy ó o.
Rơi
máu trường trung lòng chẳng núng,
Bầm
mình chiến trận tiếng không ô!
Giống nòi dốc giữa danh tròn vẹn,
Cựa
sắt chi nài phận quả cô.
Một
độ ăn thua trời đất biết
Ơn
nhà miễn đáp cái công phu.
Đó
là bài thơ Gà nòi của cụ Toản. Thầy giáo nghe có đúng niêm luật không?
Thầy Năm không đáp, cứ rít thuốc liên miên làm cho hai đuôi lông mày nhíu lại
dưới ánh hòn than của điếu thuốc.
Ông
Hội tiếp:- Tác giả bài thơ này tại Cao Lãnh năm 1916.
-
Lâu dữ vậy sao ông Hội?
-
Đăng báo xong bị kêu ra hầu tòa. Vì "người ta" cho rằng cụ muốn chế diễu con gà
trưng quốc hiệu Pháp: "Coq Gaulois"!
Nhưng cài ngụ ý thâm sâu của bài thơ đâu phải ở chỗ đó, phải không thưa ông Hội?
-
Theo thầy Năm ý nghĩ đó là gì?
-
Ông Hội là người đa trí mà, hỏi kẻ tài hèn trí mọn này làm chi!
Ông
Hội đưa taỵ Thầy Năm cũng chìa tay ra. Hai bàn tay siết chặt nhau như truyền sức
ấm cho nhau.
Thầy Năm bàng hoàng hết cà tâm can. Bài thơ Gà nòi lại nói về một chuyện gì
khác. Thế mà lâu nay thầy Năm tưởng ông Hội chỉ biết chơi gà nòi.
Chương
27
Trường gà Xà No thức suốt đêm qua với ban nhạc tài tử, các sòng tứ sắc, thí cẩu,
với những tay mơ lắc bầu cua, thảy bài ba lÿ... Cũng như bất cứ trường gà lớn
nhỏ nào ở đất Nam Kỳ. Lúa đã vào bồ, rảnh tay không đi chơi cũng uổng. Cầm nhà,
cố đất, bán vợ đợ con cũng vì gà nòi.
Không hẹn mà hai hiệp sĩ lại gặp nhau ở cái trường gà trứ danh này. Ông Hội
Đồng Hoài Bến Tre lôi ông Hội Đồng Vình Cao Lãnh đến ngồi ở chiếc ghế gỗ dưới
một tàn cây dâu già tận ngoài góc vườn để được yên tĩnh đàm đạo trước khi vào
trường.
-
Kỳ này bạn mình đem mấy con?
-
Vài con thôi huynh ạ, nhưng mặn nhất một con.
Ông Hội Đồng Hoài hỏi: - Bạn đã đến đây lần nào chưa?
-
Có nghe danh nhưng chưa đến.
-
Tôi có đến nhưng chưa đụng độ nào. Ở đây toàn là dân “hỗ kha” không thôi. Gà thì
nhiều giống ác lắm. Họ chơi gà cha truyền con nối. Tôi đã từng xuống đây để săn
giống quí, nhưng họ lại hỏi mình có giống nào lạ không, bán cho họ giá mấy cũng
mua. Ở Kế Sách có cậu Ba Oai con ông Hàm Cang đang gây một giống gà dữ chưa ai
có. Ra trường hễ ưng đá thì gà đứng cao tới đâu bạc độ chồng tới đó. Ở làng Hòa
Tú cũng thuộc tỉnh Sóc Trăng có gà Út Hậu, ở Đại Tâm có gà Trầm Tư tục danh là
Xừ. Ông già của Xừ là võ sĩ thuộc phái Thiếu Lâm. Xừ học nghề của cha có nhiều
toa thuốc rượu di truyền. Xừ đem áp dụng vào để nuôi gà và om nước gà. Xừ lại
học thêm bùa ngãi của người Miên nên gà của Xừ phải đổi tên đổi dạng giao cho
người khác thì mới có người dám đá. Ngoài ra Xừ còn có một ông thầy gà là ông
Tám Thao cáp gà tỉ mỉ ai cũng chạy mặt. Hàng xáo bảo ổng cáp gà bằng cân tiểu ly
của thợ bạc.
Ông Hội Đồng Hoài rút thuốc tra vô ống đót bịt vàng đố hút, và tiếp:
-
Ở Xẽo Gừa có bà Chín Minh đã quá cửa tuần mà vẫn chống gậy tới trường gà. Gà bả
không đụng độ, bả đá hàng xáo cũng bạc ngàn chớ không dưới. Còn bà quăng bắt thì
có biện riêng của bả ghi. Bởi vậy đất Hậu Giang phải nể danh “con gà mái già”
này. Bữa tay các tay “gà” Hậu Giang có mặt gần đủ: Ông Cả Ngọc tục danh con Hùm
Xám Ô Môn, ông Chín Gia thầy gà bất hủ, ông Cai Tổng Lê Quang Chiểu, ông Trạng
Sư Trần.. .. Tụi Tiền Giang mình xuống đây phải kết bè chớ đứng độc chiếc bị họ
nạp văng vô bồ dậy không nổi đó.
Đang chuyện vãn, bỗng nghe tiếng gọi. Ông Hội Đồng Bình quay lại thì thấy một
thanh niên vận Âu phục sang trọng, bên cạnh là một thiếu niên tuấn tú khôi ngô,
cả hai tiến về phía ông.
Ông Hội Đồng Bình hỏi:
-
Sao cháu biết cậu ở đây mà tới?
-
Dạ cháu ở Saigòn xuống, nghe người nhà nói cậu đi trường Xà No nên phóng xe dông
theo. Cha cha! Trường gà lớn gì lớn quá vậy cậu?
-
Đây là chốn anh hùng hội xủa xứ Hậu Giang mà cháu. Chốc nữa rồi xem “máu nhuộm
phụng hoàng cung”.
Ông Hội Đồng Bình giới thiệu với ông Hội Đồng Hoài người cháu của ông. Hai người
đang bàn bạc một cách tương đắc thì bỗng thằng Đặng chạy ra, đứng rước mặt ông
Hội:
-
Bẩm gà mình đụng độ.
-
Ai bảo mày?
-
Dạ chú Hai Trình kêu cháu đi tìm ông!
Hội Đồng Bình đứng gậy mời Hội Đồng Hoài: - Mình vô coi thử ra sao anh!
Thằng Đặng vừa trở lui thì thầy Năm tới. Ông Hội Đồng Bình hỏi ngay:
-
Mặt Lọ đụng ai đó thầy Năm?
-
Dạ đụng con Diều Ó của ông Cả Ngọt. Nhưng mà tôi thấy không được ông Hội à!
-
Sao vậy thầy Năm?
-
Dạ trước khi mình xuất hành đi Xà No, ông Chín có bảo: Ngày Bính Đinh thuộc Hỏa,
Ô kỵ hướng Nam.
-
Thì mình đi hướng Tây đâu có kỵ gà.
Thầy Nam thưa: - Dạ, nhưng mà Kinh Kê có nói....
Ngày
mà thuộc Thủy ngẫn ngày Ó, Ô đều thắng Vàng rày lại thua.
Ngày hôm nay là đúng ngày Nhâm Quý thuộc Thủy. Như vậy ứng dụng vào con Ô của
mình và con Ó bên kia. Cả hai đều thắng! Không con nào thua. Vậy lông Hội nghĩ
sao?
Ông Hội Đồng Bình nheo mặt:
-
Hai con đều thắng? Nghĩa là....
-
Dạ nếu Ô đụng Xám thì chắc chắn Ô thắng, còn đụng Ó thì không biết con nào
thắng.
Ông Hội Đồng Bình sốt ruột:
-
Kinh Kê cũng có nhiều câu tối nghĩa lắm, đâu để tối vào coi gà mới rõ. – Nói
xong ông vọt nhanh.
Thầy Năm biết tánh ông Hội Đồng Bình, rất thận trọng trước khi xuất phát thì đều
tra cứu Kinh Kê từng dòng một và vấn kế ông Chín Kỹ, nhưng lúc đến trường thì
ông quên hết, ông đá theo ý ông.
Thầy Năm đi sau rủ rỉ với ông Hội Đồng Hoài:
-
Độ này tôi thấy đá không được ông hội Đồng à. Đâu ông Hội vô coi rồi có ý kiến
giúp.
Ông Hội Đồng Hoài hỏi:
-
Thầy Năm có thấy con Ó không?
-
Dạ tôi coi kỹ rồi Phụng vĩ không chỗ chê. Bắp thịt, gân cốt săn cón. Lườn tàu,
xương ghim khít rim. Nghe gà ăn ba độ thì cho nghỉ nó là Triệu Tử Long bốn kỳ.
-
Vậy chắc nó đá bốn độ rồi. Phàm gà ăn ba độ thì cho nghỉ đạp mái, đá thêm nữa sẽ
bị phản độ. Nó sẽ bị mình chém tịch.
Ông Hội Đồng Bình đã tới nơi. Ông sè tay ra, chứng tỏ rằng bàn tay sạch sẽ không
có bùa phép gì, nói với chủ kê con Ó.
-
Cho tôi xin bồng con gà chút xíu.
-
Ông là ai? –Ông Cả Ngọt chủ lê trừng mắt.
-
Tôi là chủ của con Ô Mặt Lọ.
-
Ờ được, nhưng bồng xem rồi đá chớ đừng coi suông, để lên để xuống mệt con gà
tôi.
Ông Hội Đồng Bình nổi quạu, nhưng tự trấn tĩnh ngay. Đá gà mà nóng thì có khi bị
sụp bẫy. Bèn nhỏ nhẹ: - Dạ, phải chạn thì đá chớ đâu có coi suông, huynh!
Thấy ông Cả Ngọt lớn tuổi, ông Hội Đồng kêu tưng. Ông Hội Đồng bồng con gà Ó lên
nhìn cặp cán thì giật mình, con gá có cặp cựa “hỗ chão” tức hình móng cọp, một
loại cựa không hay chém vặt nhưng hễ chém là chém chết. Vừa quay trở ra thì đụng
ông Hội Đồng Hoài và thầy Năm đi tới. Ba người kéo nhau ra góc vườn tránh xa các
chủ kê đi tới đi lui tìm độ. Những độ đã cáp xong thì kêu hàng xáo vô sổ. Tiếng
kêu tiếng đáp ngập trường gà, mới nghe mệt lỗ tai nhưng trong sự lộn xộn đó có
những tiếng tri âm móc với nhau.
Ba
người tìm một nơi bàn tiếp. Thầy Năm hỏi ông Hội Đồng Bình:
-
Ông Hội đã thấy chưa?
-
Nó có cái vảy nghề Thanh Long vắt ngang mặt tiền thành quách bên cựa trái.
Bởi vậy.. ..
Ông Hội Đồng Hoài ngắt ngang câu nói của Thầy Năm:
Thanh Long đao thắng độc đao
Chém chết đối thủ cựa đầu mà thôi.
Thầy Năm tán thưởng: - Dạ đúng. Con Ô mình dưới con Ó một phân gà ông Hội à.
-
Chém chết đối thủ cựa đầu mà thôi! – Ông Hội Đồng Bình lẩm bẩm và gật gù – Cựa
đầu mà thôi.
Hai Trình chạy đến thưa: - Họ bảo nếu mình đá, họ ăn bảy đó ông Hội.
-
Ù..ừ để tôi tính. Họ đang khiêu khích mình. Đừng trả lời. Từ trong có tiếng
tuyên bố của chủ trường:
-
Mời các ông bà yên vị, độ thứ nhất sắp bắt đầu.
Bốn người cùng vào trường Chung quanh hồ, người ta đen nghẹt, không chen vào
được. Thầy Năm bảo thằng Đặng đi mướn ba cái ghế đẩu cho ba ông đứng treo tay
lên sà nhà nhóng cổ vào xem. Ở trường gà không có ghế nhì ghế nhất, ai tới trước
ngồi gần vách hồ, ai đến sau đứng kế, lom khom, hàng thứ ba đứng xổng lưng, thứ
tư, thứ năm đứng trân ghế, leo lên cây.
Ông chủ trường đứng ra đọc nội qui rồi trân trọng:
-
Tôi xin giới thiệu ông Cai Tổng Chiểu đọc bài thơ Gà Nòi quí vị nghe chơi trước
khi đá trận mở màn.
Ông Chiểu là Cai Tổng sở tại đương niên nhưng tới đây chỉ được coi như là một
thầy gà, chức Cai Tổng để ở nhà với vợ. Ông mặc áo dài đen, đầu bịt khăn đóng,
chân mang dày hàm ếch lẹp quẹp bước ra giữa hồ, móc kiếng tra vô mắt rồi cầm
giấy đọc chậm rãi:
-
Tôi là Lê Quang Chiểu, học trò của cụ Cử Phan, nay có bài thơ bát cú tặng quí vị
bằng hữu chơi gà nhân dịp khai trương trường Xà No.
So
đo rày đã khỏi ngoài Lồng (#1)
Gặp cuộc ai mà chẳng ngóng trông
Một trận dốc đền ơn tắm mẵn
Hai ngươi đừng nệ nắm xương lông
Rủi may sẵn có người hương khói
Khuya sớm cho cam kẻ ẵm bầm
Lừng lẫy lấy danh trong mấy bước
Làm sao năm đức giữ cho ròng.
Tiếng vỗ tay và tiếng cười khoái trá tiếp theo lời thơ. Bỗng một cụ tóc bạc phơ
cất giọng. Mọi người nhận ra là bà Chín Minh, nên im phăng phắc để nghe bà "Sư
mẫu gà nòi" phán. Bà nói: - Chú Chiểu làm tới hai bài sao đọc có một?
-
Phải rồi! bà Chín dạy đúng. Yêu cầu ông Chiểu đọc luôn bài kia.
-
Bà Chín dạy vậy chớ tôi đâu có làm bài nào nữa?
-
Chú khoe với tôi chú mới vừa tức cảnh làm thêm một bài đây mà. Ông Chiểu không
chối được đành nhận thiệt:
-
Bài này tôi làm hối sáng lúc vừa tới đây, chưa sửa, còn nhiều sơ sót.
-
Sơ sót cũng được, cứ đọc nghe chơi.
Ông Chiểu móc tờ giấy trong túi ra đọc iếp. Giọng ông sang sảng, tay ông ra bộ
theo câu thơ:
Cũng là đồng loại, khéo kình gan (#2)
Đá
chọi làm chi chẵng ngỡ ngàng
Ô
cậy thế cao đâm lã vít
Tía toán lòn thấp chém cho tan
Vĩa, vai nghĩ cũng vài thau nước
Mé, sỏ chăng vì mấy tất nhang
Trong thép hãy còn thua lỗ miệng
Ngoài vòng bạc xĩa giữa bàng quan.
Anh Biện của trường gà tiếp tay ngay sau tiếng vỗ tay vừa dứt:
-
Phải chi cụ thay chữ Tía ra chữ Ó thì hợp thời quá chừng!
-
Sao vậy chú em? –Ông Chiểu hỏi:
-
Dạ cháu xin vô phép nói ngang, như sự thực là hiện đang cáp độ giữa con Ô Mặt Lọ
Cao Lãnh và con Điều Ó Ô Môn. Con Điều Ó đã phủ sổ nhưng con Mặt Lo... ..
Anh Biện dứt ngang vì hai vị sư kê đã ôm gà bước vào hồ đứng vào mội đầu chữ
“Công”.
Chủ trường tuyên bố:
-
Nhang đã tỏ, chuẩn bị nhử gà.
Ông Hội Đồng Bình không thiết gì coi đá. Ông bước suống ghế đi đến bên Hai
Trình:
-
Chú thấy sao chú Hai?
-
Dạ chắc ông Hội đã xem vảy Thanh Long của con Ó rồi!
-
Có! có! Thanh Long Đao thắng Độc Đao, tôi biết chớ sao không biết!
-
Xin ông hội tính lại. Chớ độ này con Ó mạnh như Rồng và Cọp gộp lại. Ông Hội rút
khăn lau mồ hôi:
-
Để tôi ăn độ này cho chú coi!
-
Dạ. Ông Hội nhứt định đá?
-
Đá chớ bỏ chạy mất tiếng Cao Lãnh mình sao chú!
Hai cha con thằng cháu Saigòn đang xướt mía và cạp dưa hấu gần đó, thấy ông hội
đứng bên bội gà có vẻ suy nghĩ thì tới gần, người cháu nói:
-
Thưa cậu, cậu đá đi, cháu phụ.
-
Ở đây họ chơi bạc thước, bạc ký không thôi cháu à!
-
Dạ, cháu bỏ túi cả vài ngàn xài vặt, nếu cậu cần cháu viết séc.
Độ
thứ nhất qua. Độ thứ hai đến, dằng dai hơn một tiếng đồng hồ. Hàng xáo ngoảnh
lại chờ độ thứ ba: Ô Mặt Lọ Cao Lãnh – Điều Ó Ô Môn.
Ông Cả Ngọt người to lớn ngồi bên bàn nhang chưa kịp hỏi thì ông Hội Đồng Bình
tuyên bố nhận độ. Ông Cả Ngọt hỏi:
-
Vô phép hỏi ông bạn định chơi bao nhiêu.
-
Dưới một thước một ly tôi không đá.
-
Nghĩa là một trăm ngàn đó ông bạn Cao Lãnh. –Ông chủ trường sợ Ông Hội không
hiểu luật chơi ở đây nên vọt miệng giải thích. – Một trăm là phần chủ, còn hàng
xáo là khác nữa.
Người cháu Saigòn lên tiếng:
-
Bi nhiều bi mà ông Cả! – Anh Saigòn lễ phép – Bẩm Cả, cháu kêu ông Hội Đồng bằng
cậu, cháu ở Saigòn xuống theo cậu coi đá gà chơi, chỉ đem theo chút đỉnh ăn quà
vặt, chẳng hay cháu viết séc được không? Ông Cả Ngọt hỏi:
-
Chú em ở trển làm nghề gì?
-
Dạ cháu bán xe hơi.
-
Chú em có được mấy chiếc? Mỗi chiếc giá bao nhiêu?
-
Dạ chừng vài trăm chiếc không rõ số chắc chắn, mỗi chiếc từ mười ngàn đến hai
chục ngàn.
-
Giỡn hoài chú!
-
Dạ.
-
Chú ở chỗ nào trên Saigòn ?
-
Dạ gần rạp Nguyễn Văn Hảo.
Cậu bé ngồi bên cạnh ông Cả bất thần đứng dậy trỏ chàng thiếu niên đứng bên cạnh
anh chủ xe Saigòn:
-
Ê mầy cũng biết đá gà nữa sao?
Rồi chạy ra bủa sua bạn. Hai bên mừng nhau cậu bé quay lại ông Cả:
-
Nó là bạn học của con ở trường ta- be đó ông nội. Con có đến nhà nó chơi. Nhà nó
xe như bù hun vậy, đếm không hết đâu.
Anh chủ xe nói với ông Cả:
-
Xe tôi bán không dưới mười ngàn một chiếc. Tôi có thể phụ với cậu tôi mươi mười
lăm chiếc để làm vui lòng ông Cả.
Ông Cả Ngọt hơi nhợn. Thằng con nít ở đâu ló mặt ra bảnh vậy. Bèn nói:
-
Gà chưa làm sổ để thong thả coi bao nhiêu.
Ông Hội Đồng Bình lôi Hai Trình ra xa, rỉ tai:
-
Mày dám cho gà chém một phát không Hai?
-
Chi vậy ông Hội?
-
Mà dám không, đừng hỏi “làm chi”?
-
Cựa gà chém bất quá như gai quít đâm vậy chớ gì ông Hội.
-
Chú dám, tôi thưởng chú 50 gia. lúa.
-
Dạ. Xưa Kỷ Tín đem thân mình đỡ ngọn dáo cho Hớn Cao Tổ, tôi mang ơn ông Hội đã
nhiều đâu dám chối từ.
Ông Hội trở vô nói với chủ trường: - Ô Mặt Lọ bao sổ một thước.
Ông chủ trường hỏi lại lần nữa cho chắc: - Nghĩa là một trăm ngàn đồng tiền độ
hả ông Hội?
Ông Hội gật. Anh chủ xe Saigòn tiếp:
-
Cậu cứ thả sổ, bên đó muốn nhiêu mình bấy nhiêu.
Dân Hậu Giang biết tiếng con Điều Ó bốn kỳ nên đá ké 20, rổng số là 120.
Anh chủ xe hỏi ông Cả:
-
Bẩm Cả xin cho biết. Cả nhận séc hay nhận xe. Nếu nhận xe thì Cả phải cho người
lên Saigòn lái về chớ tôi không có người lái xuống đây. Năm ngoái ông Cả Bé ở
Gia Rai lên mua một lần ba chiếc, một chiếc chở cây can, một chiếc chở cái nón
của ổng, còn một chiếc ổng ngồi. Báo hại tôi phải tốn ba người tài xế, mất sở
hụi quá!
Ông Cả cười vểnh râu:
-
Chú lo dữ hôn! Chưa có ăn thua mà! Nhưng chú muốn cách nào tôi ưng cách ấy.
Sư
kê chưa đem gà vô mà hàng xáo bên con Điều Ó quăng bạc ăn bảy rần rần. Ông Hội
Đồng Hoài không khứng độ này lắm, nhưng vì bạn gà đồng hương nên cũng đá ké vị
tình con Ô Mặt Lọ mười ghim. Còn ông Hội Đồng Bình thì bảo thầy Năm:
-
Tôi phiền thầy bắt tiếp hết bạc ăn bảy ăn sáu cho tôi.
Thầy Năm ái ngại, nhưng vẫn làm theo lời ông. Bạn hàng xáo quăng quá sức ghi
không kịp thầy phải nhờ thằng Đặng nhớ giúp.
Chủ trường bước ra trước bàn nước tuyên bố:
-
Tỏ nhang!
Hai sư kê bồng gà vào, mỗi người ngồi ở đầu chữ ”công” chờ lịnh. Điều Ó cất
tiếng gáy dũng mãnh háo thắng: “Gã kia xuống ngựa qui hàng!” Ô Mặt Lọ chỉ niển
đầu lắng nghe và "cục tác" hai tiếng ra vẻ bảo: "Khoan đã, ờ đừng có diệu võ
dương oai!"
Hai Trình mặc quần trắng, gi- lê trắng lòi hai cánh tay gân guốc, khăn nước cắn
chéo ở góc mép quật lên vai. Thằng Đặng rót đưa Hai Trình một ống trúc nước. Hai
Trình hớp một nửa phun sương cặp giản đồng của đại tướng mặt lọ, còn một nửa cho
tướng thấm giọng. Xong Hai Trình chà tay dưới đất ngán mỏ đất và xát tay vào bắp
và chân trong nách gà cho ấm.
Hai Trình vuốt chòm lông cổ gà và rù rì:
-
Ráng nghe con Ô. Phải thời một cựa là con vinh qui bái tổ!
Keng! Đồng xu nước rớt. Giờ phút thiêng liêng đã điểm. Ông chủ trường móc trong
túi ra một chiếc khăn trắng, nhúng nước vắt thật khô rồi lau cựa cả hai con gà.
Xong, ông còn giở cánh gà lên lau nách cho chúng, nhưng cũng chưa hết. Ông bảo
hai ông sư kê lật hai bàn tay đưa ra ông xem đề phòng móng tay nhọn lén đâm bầu
diều gà. Mỗi ông sư kê ôm gà mình rồi chia ra phía trước. Hai con chiến kê sừng
lông cổ tiến tới.
Ông chủ trường mới hô: - Thả gà! Buông đuôi ăn trót.
Ông chủ trường đề phòng mọi cách gian lận như tẩm nọc rắn vào cựa, thoa xạ chồn
vào bên trong cánh gà.
Sư
kê Điều Ó phóng gà tới trước. Hai Trình cũng đẩy gà mình tới nghinh chiến nhưng
chưa buông hẳn con Ô Mặt Lọ ra. Cánh tay trái vòng ra trước che ức cho nó. Điều
Ó hung hăng và nhanh như chớp phóng nạp liền.
Máu xối xuống đất. Ông Cả Ngọt gật gù và vuốt râu. Hàng xáo la lên. Bên phía
Điều Ó vỗ tay ré lên khoái trá và quăng bạc lia lịa.
-
Bể vựa lúa Mặt Lọ rồi!
-
Thủng bàu diều Tiểu thư Mặt Lọ rồi!
-
Ăn Sáu một chục cặp đây.
-
Ăn năm, muốn mấy cặp bắt mấy cặp.
Hai Trình không màn vết thương trên tay. Hai Trình không rõ ý ông Hội bảo anh
che ức con Ô Mặt Lọ là có ý nghĩa gì nhưng chắc chắn cú nạp đó không làm gà mình
bị thương tích. Vậy là tốt rồi. Người sư kê thương gà như con. Cha mà đỡ được
cặp cựa cho con càng quí.
Hai Trình giơ cánh tay bị thương lên và nói:
-
Xin phép chủ trường cho tôi băng cánh tay rồi đá tiếp!
Ông chủ trường gật đầu.
Ông Hội Đồng đã chuẩn bị sẵn. Chỉ nháy mắt là băng bó xong. Ông nghĩ thầm: Con
Điều Ó ác thật. Cặp cựa phón lút. Nếu không có cánh tay Hai Trình đỡ thì Ô Mặt
Lọ đã thủng bầu diều và tình thế đã chuyển từ huề xuống thua. Hàng xáo phía Điều
Ó quăng bạc năm ăn sáu như mưa.
Chủ trường ban lịnh thả gà. Phe Điều Ó vẫn quăng bạc như cũ. Phe Mặt Lọ rụt rè,
chỉ vài người đưa tay nghéo. Mặt Lọ bị đá tắp vô bồ mấy lần nhưng gượng đứng lên
được. Tiếng la ré vang dội lấn áp hẳn phe kia. Mặt Lọ nạp thưa, đòn nhẹ có vẻ
như ngán đối thủ. Nó rà cần xuống sát đất nhìn vào cặp cán của Điều Ó. Cử chỉ đó
làng gà nòi gọi là soi vảy hoặc so chân. Thỉnh thoảng mới vô vỉa, đá kẹt được
một đòn rồi lui ra không để cho địch thủ kèo trên.
Keng! Đồng xu bị đứt sợi chỉ rơi trên mặt dĩa chấm dứt nước nhứt. Hai Trình
nhanh nhẹn chạy tới xớt gà mình giơ lên. Con Điều Ó hăng hái đuổi theo làm cho
phe hàng xáo vỗ tay rầm rầm vì thấy Điều Ó thắng thế.
Hai Trình ôm Ô Mặt Lọ lùi ra gốc cột chỗ ông Hội Đồng và thầy Năm đang ngồi.
Thầy Năm hòm sẵn kim chỉ, dao miểng và các dụng cụ cần thiết cho việc may vá
điều trị chớp nhoáng các vết thương. Ông Hội Đồng mang kiếng đưa tay nhè nhẹ giở
cánh, xem cổ, sờ đùi và vạch lông khắm mình con Lọ để tìm vết. Lạ này! Con Điều
Ó đá như mưa bão, áp đảo con Mặt Lọ suốt nước nhứt.. .. Ông nói với thầy Năm:
-
Thầy Năm cất dao miểng kim chỉ đi!
-
Ông Hội không thấy vết nào sao?
-
Thầy Năm tỏ mắt thì tìm thử coi, chớ tôi thì không thấy gì hết.
-
Lạ quá! Ông Hội thấy con Ó có vảy Thanh Long phải không?
-
Phải. Nó được mệnh danh là Tiểu Tử Long bốn kỳ mà!
Ông Hội mừng thầm: Nếu vậy thì sự dự đoán của mình chắc không sai! Rồi ông rỉ
tai Hai Trình:
-
Nước nhì mình lượm bạc. Nếu không thì qua nước ba. Chắc chắn mình sẽ ăn độ này.
Hai Trình cũng lấy làm lạ. Không hiểu được tại sao con Ó hùng lực vậy mà không
gây thương tích gì cho con Lọ? Làm sư kê cả chục năm, nhưng chưa gặp trường hợp
nào như vậy.
Hai Trình thả gà, ngồi lui lại. Cánh tay bị cựa ê ê. Hai Trình đưa lên, thấy máu
thấm qua vải băng. Hai Trình vẫn không hiểu việc ông Hội bảo mình làm như thế là
nghĩa gì.
Trong lúc đó cặp địch thủ vẫn quần nhau ở chiến trường. Mặt Lọ có trả đòn khá
hơn ở nước nhứt, nhưng vẫn bị Điều Ó áp đảo bằng những miếng đá sỏ rất đau làm
cho Hai Trình phải méo mặt. Hai Trình tưởng tượng máu của Mặt Lọ phải đổ đầy
đất. Nó hơi yếu thế phải tìm cách chui vào cánh để đá vỉa vớt hoặc tránh đòn
nhưng Điều Ó rất khôn không cho Mặt Lọ lủi vào cánh mình.
Sư
kê của Điều Ó là một lão già đen như gỗ muôn, đầu bạc phếu. Đặc biệt cặp mắt lão
ti hí như che kín những mưu độc bên trong. Lão ta chỏi hai tay mọp sát đất theo
dõi từng cú đá của gà nhà. Sau mỗi cái nhảy của Điều Ó lão kêu kên như để ông Cả
Ngọt nghe mà liệu bề quăng bạc.
-
Chém cần!.. .. Đâm gần hang cua!.. .. Chém kẹt đùi.. .. v.v.. .. Ông Cả Ngọt tin
lão lắm. Có lẽ lão là “dưỡng phụ” của bầy gà chiến của ông nên lão thuộc nết đá
của từng con, đặc biệt con Linh kê Điều Ó có vảy Thanh Long này. Ông Cả Ngọt
nghe lão sư kê “thông báo” từng “đường gươm”, ông chờ đợi đối thủ lảo đảo, quay
mòng, ngả quy... .. hoặc cuốn vó chạy dài để phóng bạc bất ngờ đánh đối phương
bằng những đòn tâm lý ác nghiệt, nhưng qua hết nước hai, ông nhìn sang con Mặt
Lọ, ông thấy nó vẫn khỏe ru, lông lá không bê bết máu, cần vẫn cất cao, mắt vẫn
tinh anh.
Mọi thường đâu có vậy. Ó nập sát đầu là đối phương tử thương ngay, chậm lắm là
một phần ba nhang nước nhứt.
Ông ngoắc lão sư kê tới, hất hàm. Ông sư kê nói nhỏ:
-
Không sai đâu Cả! Gà không ăn sớm ắt ăn khuya.
Ông Cả Ngọt vẫn ngồi không yên. Ông cảm thấy còn Điều Ó mất nhuệ khí.
Đồng xu lại rơi. Tiếng khua sắc làm ông giựt mình, lão sư kê ôm con Điều Ó tới
trước mặt trình diện. Ông xem qua thấy con gà không bị vít nào nặng. Điều đó làm
ông tin tưởng con Ó sẽ ăn nước khuya như sư kê vừa nói.
Trong lúc bên Mặt Lọ thì bao vây kỹ gã hiệp sĩ của mình không cho cặp mắt lạ nào
dòm ngó. Còn ông Hội Đồng Bình thì tỏ ra buồn rầu. Ông không chăm sóc vết thương
cho đứa con cưng mình nữa.
Ông ngồi ngoài vòng người để dễ dòm bốn phía canh chừng đếm gà. Chốc chốc ông
quay lại bảo (ăn rập với lời rao sư kê Điều Ó lúc nảy):
-
Coi vít trong trái chanh có nặng không?
-
Máu bầm trong kẹt đùi nó!
-
Cái vít gần hang cua có sâu không?
Ông vừa nói vừa liếc qua phía Điều Ó. Ông thấy lão đầu bạc vừa nói vừa ra bộ với
ông Cả Ngọt. Ông này gật gù tỏ vẻ vừa lòng. Ông Hội Đồng Hoài tiếp tay om nước
con Mặt Lọ. Ông cũng phụ lờ nói của ông Hội Đồng Bình. Ông nói hơi to cố ý cho
phía Điều Ó nghe.
- Vít gần hang cua ra máu đen dữ quá anh Hội
Vào nước ba, ông Cả Ngọt hy vọng tràn trề. Nhưng cháy gần hết sợi chỉ mà Mặt Lọ
cứ trơ trơ. Nó lại có phần vượng sức hơn nước nhì. Ông Cả hơi sốt ruột. Mồ hôi
hai bên thái dương bắt đầu rịn ra rồi chảy có giọt. Thằng bé mở chiếc quạt giấy
quơ quơ tạo một sự dễ chịu cho ông.
Hai cần gà kéo vào nhau. Hai cái mỏ tìm chỗ để níu đá. Con Điều Ó bất thần lủi
xuống lườn con Mặt Lọ ra sau đuôi.. .. Ông Cả vỗ đùi la như ra lệnh:
-
Chém chết nó con Điều!
Con Điều luồn ra sau quay cổ lại.
-
Chém Mã kỵ nó con! –Lão sư kê đầu bạc biết nết con gà nên quát. Hình như con Mặt
Lọ hiểu ý kẻ địch. Thay vì để đối thủ nắm đầu đá (cú đá này nhà nghề gọi là
miếng lật vung, lật xuồng, hoặc lật mộ. Thường là chém ngay lưng lủng phổi), con
Mặt Lọ lại hụp xuống. Con Điều Ó chồm tới cắn đầu nhưng bị hẩng quá đà chúi lúi
và cắm đầu. Mặt Lọ bước tới nhảy chân tiên một phát nhẹ nhàng như không, chỉ
nghe một tiếng “rố..ốc” nhỏ.
Con Điều Ó lảo đảo giăng thẳng hai cánh rồi ngẩng cổ lên như cổ hạc thờ. Hàng
xáo reo lên ầm ầm vì nghĩ rằng nó sẽ trả đòn mãnh liệt, nhưng chàng hiệp sĩ lại
chậm chậm xếp giáp và gục cổ xuống,, rồi từ từ ngả khụy êm ái trên nền đất đã
từng chứng kiến nhiều chiến thắng oanh liệt của mình.
Đầu nó nhủi xuống vạch một đường máu dài rồi dừng lại, đuôi nó xòe tất cả lông
ra và nhỏng lên như muốn nói tiếng vĩnh biệt với chủ kê, sư kê và hàng xáo, rồi
hai chân nó sụm xuống, toàn thân ngã ngang. Hai chân run run như lời trăn trối.
Lão sư kê đầu bạc vọt tơi định ôm con gà. Nhưng ông Hội Đồng Bình giơ tay ngăn:
-
Không được bắt, phải chờ lệnh chủ trường.
Chủ trường gà bước ra khỏi ghế, đứng bên mé hồ giơ tay phán:
-
Chủ kê, sư kê và hàng xáo hai bên không được động thủ. Nếu ai vào ôm gà nào
trước thì con đó kể như thua.
Trong lúc Ô Mặt Lọ ngẩng cổ cục tác vang rân.
Mọi người nín thở. Con Điều Ó vảy hai cánh xạch xạch chòi chòi cặp chân rồi im
hẳn. Ông chủ trường nhẹ nhàng bước tới cúi xuống xem bên này bên kia con Điều Ó
rồi quay ra trịnh trọng tuyên bố:
-
Con Điều Ó đã nhắm mắt và hết nhúc nhích. Cho phép hai bên bắt gà và nhử lại ba
lần như đã nói trong nội qui trường.
Lão sư kê đầu bạc nhanh như chớp lao tới ôm con gà lên, tay bợ lườn, tay kéo cần
nó lên áp miệng vào vừa “hà” hơi ấm vừa mút máu.
Hàng xáo ùa ra vây quanh xem tình thế của gà nhà. Ông Cả Ngọt bệ vệ bước tới.
Lão sư kê đầu bạc run run giọng:
-
Bẩm Cả, không sao đâu. Nó bị cắn sỏ nên bất tỉnh đó thôi.
Ông Cả Ngọt móc trong lưng lấy ra một cái túi gấm, chẩm rải mở ra, thọc hai ngón
tay chuối mẳng vào kẹp ra một hườn thuốc nhỏ bằng hột đậu nành, trong khi lão sư
kê nhanh nhẩu banh mỏ con gà ra. Ông Cả bỏ viên thuốc và thọc luôn ngón tay vào
miệng con gà. Ông vừa rút ngón tay ra thì một ống trúc bằng ngón tay cái chứa
đầy nước được đưa tới.
Lão sư kê trăm lầm thầm vài câu như thần chú, rồi rót vào họng gà. Lão vuốt dạ
hầu gà và há miệng ra ngậm cần gà mòng hà hơi từ cạnh mòng tới hang cua, rà lên
xuống hai ba lượt như truyền sức mạnh cho nó. Mắt con Điều Ó đang nhắm nghiền
bỗng mí mắt cử động nhè nhẹ.
Lão sư kê lấy chiếc "khăn phép" của lão choàng lên mình nó rồi lại đọc lâm râm.
Không ai – ngoài ông Cả Ngọt – hiểu việc đó có tác động gì, nhưng người ta tin
rằng lão có phép cải tử hườn sanh.
Nhang om nước đã cháy hết nhưng chưa đứt sợi chỉ cho nên đồng xu vẫn còn treo.
Ông Hội Đồng Hoài nhắc ông chủ trường. Ông chủ trường nhìn lại thấy sợi chỉ thay
vì ở cuối nhang om lại bị dời vô đầu nhang nước cho nên nhang om đã hết từ lâu
mà đồng xu không rớt. Đó là do bàn tay tụi điếm gà. Tụi này thức lúc hàng xáo
chộn rộn thì dời sợi chỉ để kéo dài thời giờ có lợi cho bên gà lâm nguy.
Ông chủ trường biết ttụi điếm gà này ăn tiền của ai để tráo trở vậy, nhưng ông
không muốn có sự cải vả đưa đến xô xát. Ông cứ bình tỉnh tuyên bố:
-
Hai bên sư kê ôm gà ra nhử lại!
Bạc ăn năm ăn bốn bên Mặt Lọ quăng ra rào rào. Tay từ rừng hàng xáo mọc ra tua
tủa. Lão sư kê vừa bước vừa hạ cần con Điều Ó và chậm chạp ngồi ở đầu chữ công,
con Điều Ó đã mở mắt nhưng cặp mắt hết thần sắc.
Hai Trình đưa con Mặt Lọ ra. Con Điều Ó ngoách sang một bên. Con Mặt Lọ chồm tới
mổ nhưng Ó không phản ứng.
-
Thả gà - Chủ trường tuyên bố.
Hai bên bắt đi thả ại hai lần. Đến lần thứ ba, lão sư kê đầu bạc vừa đứng dậy
chưa kịp quay lưng thì con Điều Ó ngã khụy êm ru không giãy giụa.
Ông chủ trường phán quyết ngay:
-
Điều Ó thua.
Hàng xáo hai bên ù ra chật bít vòng hồ như chân nhang trong vùa, mỗi người một
tiếng. Có người la to:
-
Mình bị điếm Cao Lãnh rồi!
-
Họ tẩm cựa nọc rắn!
-
Không chịu thua! không chịu thua!
Đợi cho tiếng người bớt ồn ào, ông chủ trường bảo:
-
Ở đây toàn là anh hùng hào kiệt. Chơi bời ăn thua đều có qui tắc không ai được
nói ngang, làm ngang. Con Điều Ó chết tại trường là thua!.. .. Còn nói bên Cao
Lãnh chơi điếm thì bằng chứng đâu? Trước khi thả gà tôi đã lau cựa và nách, cánh
gà của hai bên đề phòng họ xài nọc rắn hổ và xạ chồn. Bây giờ Điều Ó chết, mấy
người mới nói. Tại sao không nói trước kia?
Bỗng đâu từ sau bàn nhang hai người đàn ông ở trần xách một bao bòng bột bước
ra. Da họ đen như da lão sư kê, lại hêm xâm mình khắp ngực lưng và cánh tay. Một
người nói tiếng lơ lớ như tiếng Miên:
-
Hai đứa tôi gửi ngành thầu của trường nhưng không đưa vì bên Mặt Lọ xài bùa ếm
con Điều Ó.
Trong hai gã lực lưỡng, bộ mặt hầm hừ, cặp mắt trắng để lộ vẽ dữ tợn, ông hội
Đồng Bình chỉ biết nhìn ông chủ trường. Ông chủ trường ngó con Hùm Xám Ô Môn.
Ông Cả Ngọt, râu tóc dựng lên cả. Ông vẩy tay lão sư kê:
-
Bồng con Điều Ó lại tôi xem.
Lão sư kê vớt con Điều Ó lên. Cổ nó dịu oặc lòng thòng như không xương. Ông Cả
Ngọt ôm con gà vào lòng. Nước mắt tuôn ròng ròng. Ông gục đầu vào xác nó tưới
nước mắt và nức nở nghẹn ngào:
-
Tại ba cho nên con mới ra nông nỗi này. Sách Kinh Kê có bảo ăn ba độ thì thôi.
Đá thêm sẽ bị phản độ. Ba không tin vì thấy con còn oai dũng lạ thường. Ba định
thắng trận này sẽ cho con nghỉ ngơi, nào dè đâu con tử chiến. Chết rồi mà còn
nuối lại vài phút để nhìn ba phải không con? Hụ. ..hụ.
Cả trường gà im tin thít. Ông Cả Ngọt ngẩng lên, mắt đầm đìa nước mắt, nói với
ông chủ trường và ông Hội Đồng Bình bằng giọng rắn rõi:
-
Tôi nhận chung tiền cho ông Hội, nhưng xin đừng nói con Điều Ó của tôi thua.
Ông Hội Đồng Bình bước tới đứng trước mặt ông Cả Ngọt, cất giọng sang sảng:
-
Tôi xin bái phục tinh thần thượng võ của xứ Hậu Giang. Xin mới có dịp nào đến
đất Cao Lãnh của tôi để được thù tạc.